"Nhân sinh vốn dĩ là một canh bạc lớn. Chỉ là trong ván bạc này, Tư Không làm chủ sòng, hắn lại hơn kẻ khác đôi phần may mắn, từ đầu chí cuối đều là kẻ thắng."

"Bệ hạ coi Tư Không như hổ lang dã thú —"

"Nếu đã dám đến, ắt có dũng khí cùng hổ tranh da, có thế lực vãn hồi càn khôn. Được thế quân vương, Tư Không có gì mà chẳng cam lòng cúi đầu? Chớ nói quân tử chẳng đứng dưới tường nguy, mà tường nguy nay đã khắp nơi: đại hạ sắp nghiêng, buồm thuyền đã nát. Bệ hạ nếu chịu đến, ắt là cục diện thần mong nhất; bệ hạ cùng Tư Không bình hòa; ắt cũng là cục diện Điện hạ mong nhất, đệ đệ cùng phu quân thuận hòa."

"Nếu chẳng đến, cũng nên có lương thảo đưa tới. Lấy lương cứu sinh, dân tâm quân tâm đều yên. Há Bệ hạ còn ngờ Tư Không nuốt lương sao? Dẫu có nuốt đi, cũng chỉ là mất chút lương thảo, song đổi lấy danh vọng thiên tử thương dân, còn Tư Không thành tiểu nhân bị thiên hạ chê cười. Huống hồ còn có thần, thần tất sẽ về với quân."

"Cả hai đường ấy, đều là Bệ hạ cùng Tư Không đồng thắng."

"Thế mà nay, cả Bệ hạ lẫn quân lương đều chẳng thấy, chỉ thấy người làm quân vương mà chí chẳng bền, có thuật mà không có đạo. Gặp 'cơ hội trời ban' lại chẳng biết nắm lấy, để tuột khỏi tay, thực là đáng tiếc. Phải biết cơ hội này vốn chẳng phải trời ban, mà có người gánh hết ngàn cân, riêng vì thần, cũng riêng vì Điện hạ mà lập."

"Cho nên giờ phút này, lòng thần đối với đế tâm như nước sôi dầu bỏng, uất kết vô cùng. Chẳng rõ Điện hạ tâm ý thế nào?"

Chẳng rõ Điện hạ tâm ý thế nào?

......

Tùy Đường mỏi mệt đến cực điểm, hôn mê đã lâu, song vẫn chẳng được an giấc. Trong óc cứ văng vẳng mãi câu nói của người kia lúc ôm nàng vào lòng trước khi ý thức tiêu tán.

Hắn nói: "Lương thảo của ta chưa bị đốt, hết thảy đều an ổn, hết thảy chỉ là một bàn cờ. Để lệnh quân nói rõ cùng nàng."

Hắn thậm chí chẳng đưa nàng về trướng, chỉ ôm một cái xác nhận nàng không thương tổn, máu chẳng phải của nàng, rồi liền giao nàng cho y quan theo sau, bản thân vội vã thúc ngựa rời đi.

Tùy Đường tỉnh lại, ngồi dậy từ trên sạp, có tỳ nữ lạ đến dìu.

Nàng chậm rãi hồi thần, ý thức dần sáng sủa.

Đây chẳng phải lần đầu nàng tỉnh dậy.

Sau ba ngày hôn mê, nàng đã từng tỉnh dậy một lần.

Lúc ấy, người chưởng sự tối cao nơi này, chính là Giang Hạo – Giang lệnh quân.

Giang lệnh quân nói với nàng: "Ngày hai mươi hai tháng sáu, khi Điện hạ đến Chương hà, chính ngày ấy ở Loan Khẩu dụ được Vệ Dung mở màn cho trận chiến cuối cùng. Tư Không đã trong đêm đi tuyến trước chỉ huy, chưa rỗi mà bầu bạn cùng người. Lúc này, do thần chăm lo Điện hạ. Điện hạ có gì cần, đều có thể nói với thần."

Tùy Đường gật đầu: "Hắn nói có một bàn cờ, nhờ lệnh quân cùng cô nói tường tận, lệnh quân hãy nói đi."

Thế là Giang Hạo đem đầu đuôi sự việc giảng giải hết thảy.

Đến cuối, lại hỏi: "Chẳng rõ Điện hạ tâm ý thế nào?"

Doanh trướng nào sánh cùng phủ đệ lâu các. Tùy Đường nằm trên giường của Lận Tắc, lúc này gọi thần tử tới đối thoại, tạm cũng chẳng màn che màn trướng, chỉ lấy một tấm chăn đặt sau lưng làm gối, phía trước trải tấm nỉ làm bình phong, bề tôi đứng xa, cúi mắt nhìn xuống.

Tùy Đường chẳng thấy bất tiện, chỉ theo từng lời, từng chữ mà tâm tình nổi lên, dần lắng xuống, rồi lại sục sôi trào dâng.

Trong tay nàng nắm chặt một vật, có đinh tán, như muốn ấn sâu vào lòng bàn tay.

Chẳng phải vì tức giận mình bị giấu diếm, mà là vì những gì đối phương nói trùng khớp cùng giấc mộng trên đường nàng tới, chẳng khác chi điều nàng hằng mong cầu.

Khiến trái tim nàng chấn động.

Nàng có đức có năng gì, mà mộng tưởng lại thành sự thật?

Nàng nhớ tới đầu năm ngoái, khi nàng thường đến Giang phủ, cuối cùng tự thuyết phục mình ở lại, người kia đã nói: "Bước này nàng đi trước, ta sẽ trả lại cho nàng, không để nàng quá nhọc."

Thì ra, hắn chính là dùng cách này, hướng về phía nàng mà đến.

"Chẳng rõ Điện hạ tâm ý thế nào?"

Giang lệnh quân vẫn còn hỏi.

Tùy Đường quá mệt, tâm tình dâng trào, hé môi chẳng thành tiếng, chỉ gắng gượng nắm chặt vật trong tay, rồi chậm rãi buông ra, nhẹ nhàng v**t v*.

Khi lệ rơi, môi nàng vẫn run run, lời chẳng thành câu, ý tứ mơ hồ.

Song Thượng thư lệnh cùng nàng chung tiếc nuối mà cũng chan chứa an ủi, vẫn nghe rõ ràng. Nàng nói: "Chuyến này, không uổng."

Giang Hạo đứng dậy cáo lui, chẳng quấy rầy thêm, chỉ dặn nàng dưỡng sức.

Nàng thở phào, nghe lời nghỉ ngơi, một giấc nữa lại qua thêm một ngày một đêm.

Tỉnh dậy, chính là giờ khắc này.

Mấy ngày điều dưỡng, thuốc thang bồi bổ, tinh thần nàng đã hồi phục phần lớn. Tỳ nữ đến hầu rửa ráy, nói nay là chiều hôm hai mươi sáu tháng sáu, Tư Không vẫn ở tiền tuyến chưa về.

Nàng dựa trên sạp, lần mò vật mấy ngày chưa từng rời tay.

Chính là một chiếc hộ thủ của hắn.

Đêm đó, nàng đã cận kề tuyệt vọng.

Cỏ Quỷ Hỏa thiêu sáng bầu trời, quân địch rút đi, người che chở nàng kéo kiếm mà tới.

Thừa Minh thương thế nặng hơn nàng nhiều, ngực, tay, cổ chân đều là vết kiếm, máu cùng mồ hôi hòa thành một thể. Hắn loạng choạng ngã vào nàng, cố nén một hơi cuối, nắm lấy tay nàng, ép nàng cầm kiếm.

Nàng ngoài ôm chặt hắn, giữ chắc kiếm, thì chẳng làm được gì.

Trong lúc tránh né, ngã đổ liên miên, nàng chẳng còn nhớ phương hướng Thừa Minh đã chỉ, chẳng biết đâu là "phía trước" nữa.

Người che chở cho nàng máu vẫn tuôn, còn người nàng phải bảo hộ thì đang chờ lương thảo.

Tàn dư lý trí bảo nàng chẳng thể ngồi chờ.

Nhưng ngoài chờ, nàng còn có thể làm gì?

Còn có thể làm gì?

Chỉ còn—gọi tên.

"Tam lang!" Nàng thì thầm.

Không dám lớn tiếng, e địch quân quay lại, chỉ khẽ khàng, thấp giọng, yếu ớt vô công mà gọi.

Để tự nhủ bản thân vẫn còn cố gắng, chẳng để phí thời gian.

"Tam lang—"

"Tam lang......"

Thanh âm nàng tiêu tan trong lửa, tan biến trong gió.

Người trong lòng máu chảy chẳng ngừng, hơi thở yếu dần, nàng cũng cạn kiệt khí lực, gần như muốn buông xuôi.

Song trên hết nàng vẫn muốn sống, còn một hơi thở cũng muốn níu lấy mạng.

Những ngày mù lòa, thính lực nàng càng nhạy bén, cho nên trong đêm dài gió lửa ngập trời, trong khoảnh khắc hấp hối sắp buông bỏ, nghe tiếng vó ngựa, nàng tưởng quân địch quay lại, bèn dồn hết sức, nắm chặt kiếm mà chém ra.

Có lẽ bởi nàng lao ra quá đột ngột, hoặc ánh kiếm còn vằn sáng, khiến con ngựa của kẻ đến hí dài dựng vó, người kia cũng vội ghì cương cho ngựa dừng lại.

"Là ta!"

Thanh âm quen thuộc mà xa xăm, tựa như từ trong mộng truyền tới.

Mãi đến khi hắn đỡ lấy lưng nàng, ấn lên vai nàng, lời nói mới lại vang ra: "A Lân, là Tam lang."

Nàng mới chịu buông kiếm, gắt gao nắm chặt lấy hắn.

Hắn đột ngột đến, cũng đột ngột đi, chẳng thể ở lại bên nàng thêm một khắc. Ấy là điều mà khi đó nàng không thể chấp nhận. Nàng đã chẳng còn hơi sức nói ra một chữ, chỉ còn mười ngón tay gom góp sức lực từ nơi nào mà bấu chặt không buông, chẳng để hắn đi.

Hắn bất đắc dĩ, liền tháo chiếc hộ thủ nơi cổ tay, nhét vào tay nàng: "Đợi ta trở về đón nàng."

Thế là nàng đã nắm chặt mấy ngày liền.

Tùy Đường đem chiếc hộ thủ vuốt phẳng, gấp lại đặt bên gối.

Khi thần trí sáng suốt, nàng đã có thể hiểu sự vội vã của hắn.

Đó là chiến trường, là nơi hắn mưu tính nhiều năm, tự thân thống lĩnh hơn trăm ngày. Chỉ còn kề cửa thắng bại, tự nhiên chẳng thể dừng bước.

Huống hồ, nơi đó còn có dược của nàng.

Nàng nay đã có thể xuống sạp, bước ra trước gặp Giang Hạo, hỏi về chiến cuộc, hỏi Lận Tắc khi nào trở lại.

Nơi đây ở phía bắc Chương hà, cách tiền tuyến chừng ba mươi dặm. Tuy chẳng nghe được trống trận vó ngựa, tiếng đao kích giao tranh, cũng chẳng thấy lửa khói ngút trời, quân kỳ nhuốm máu. Nhưng mùi tanh máu đã hòa vào gió, ngấm xuống đất, theo cuồng phong mùa hạ từ Chương hà cuộn sóng thổi đi khắp nơi.

Giang Hạo dẫn nàng ra khỏi doanh trướng, bước lên một chỗ cao.

Nước Chương hà cuồn cuộn chảy về đông.

Mùi máu đã phai nhạt đi nhiều.

[Ngày hai mươi hai tháng sáu mở màn quyết chiến. Đêm ấy Tư Không men theo lối nhỏ, sai tiên phong truy sát Vệ Dung, truyền lệnh binh giáp phục kích ở Loan Khẩu thu lưới. Tuy kế này lộ ra đôi phần, vòng vây kéo dài, song trước bình minh đã diệt sạch tiên phong quân của Vệ Thái, lấy thủ cấp Vệ Dung.]

[Sáng hai mươi ba tháng sáu, trời mù không sáng, Tư Không điều ba đường binh giáp: một đường đến cổng thành Ký Châu khiêu chiến, nói rằng đã giết Vệ Dung, bảo Vệ Thái sớm quy thiên; một đường là tiên phong quân cũ dưới trướng Vệ Dung đã quy hàng, lại trở về Loan Khẩu làm bộ bình an, gửi tin cho Vệ Thái rằng trận kịch chiến đêm qua chỉ là viện trợ của Lận Tắc bị đốt lương thảo, yên tâm thủ thành; một đường là giả tiên phong quân, nói đã bắt được Trường công chúa Tùy Đường, hỏi xử trí ra sao. Ba đường binh giáp, ba loại tin tức: mừng, lo, vô sự, khiến Vệ Thái tâm thần rối loạn.]

[Trưa hôm ấy, Vệ Thái rốt cục điều quân xuất thành, cũng chia ba lối binh giáp: một ra thành nghênh chiến, một vòng đường đi Loan Khẩu hỏi thăm hư thực, một tự thân lãnh vạn người còn lại cố thủ Ký Châu. Từ đó trong ngoài Ký Châu, chiến lửa ngút trời.]

[Đêm hai mươi ba tháng sáu, năm ngàn binh Vệ thị xuất thành nghênh chiến, trong loạn quân chứng thực công tử Vệ Dung đã bị giết. Rạng sáng hai mươi bốn, chiến báo lại truyền: năm ngàn binh đi Loan Khẩu đều trúng phục mà bị tru diệt. Vệ Thái liên tiếp nhận tin bại, tâm rối như tơ vò.]

[Tối hai mươi lăm, Đông Cốc quân rốt cục phá thành Ký Châu. Trưởng tử Vệ Thái chết trong loạn quân, còn Vệ Thái bị Lận Thử một mũi tên bắn chết. Nay Đông Cốc quân đã đóng giữ Ký Châu, tiếp quản cung điện Nghiệp thành.]

Giang Hạo đem tin thám tử trong bốn ngày tóm lược mà bẩm báo cùng Tùy Đường.

Tùy Đường nghe xong hân hoan: "Chính là hôm qua đã đại thắng, vậy Tam lang cớ sao chưa về? Hắn đã nói sẽ về đón cô."

Lời nàng rơi xuống lại thoáng sinh lo lắng: "Hắn chẳng lẽ không ngồi trong trướng chỉ huy, mà còn tự thân ra trận ư? Há chẳng phải đã thọ thương, chẳng thể đi lại?"

"Điện hạ chớ vội." Giang Hạo an ủi, "Đêm qua mới công hạ Ký Châu, binh tướng cởi giáp quy hàng vốn là dễ. Nhưng Vệ Thái sống ở đây hơn nửa đời, ám vệ thân binh vô số, việc dọn dẹp mới thực hao tâm tốn lực. Tư Không tất muốn bảo chứng thành trung yên ổn rồi mới đến đón Điện hạ. Vậy thì nhanh chừng ba năm ngày, chậm thì mười ngày nửa tháng, cũng đều thường tình. Ấy cũng là lý do chúng ta còn ở nơi này, chưa dẹp doanh trướng."

Lời Giang lệnh quân nói, quả thực chẳng sai. Đông Cốc quân sau khi nhập thành cũng đang làm những việc ấy.

Chỉ có một điều chưa nhớ tới: Xuyên uất tác – dược của Tùy Đường.

Nửa năm trước, Lận Tắc từng mưu kế khiêu khích Vệ Thái và Mông Diệp, từ đó Mông Diệp bặt tăm. Nhưng Ký Châu bị vây chặt như sắt, ngoại trừ thứ tử Vệ Dung từ U Châu chạy về, thì toàn bộ Vệ gia không ai ra khỏi thành. Vậy nên Mông Diệp sau khi trở mặt, mười phần thì tám chín phần là dịch dung ẩn náu trong thành. Chỉ chờ Vệ Thái xuất quân, hoặc nhân loạn lúc thành phá mà đào thoát. Lận Tắc đoán định chỗ này, nên phòng bị gắt gao. Huống hồ trận chiến cuối, từ khi Vệ Thái xuất quân đến lúc Đông Cốc quân nhập thành, chỉ hai ngày hai đêm, Mông Diệp há chẳng phải cá trong chậu.

Vậy nên sau khi nhập thành, Lận Tắc giao việc bố phòng cho Lận Thử, còn mình thì dẫn thân vệ truy tìm tung tích Mông Diệp. Thành tuy dân còn nhiều, nhưng chẳng sánh bằng binh giáp của hắn.

Trước hết hắn ban hịch: đóng chặt cửa thành, cấm ra vào.

Sau đó dán bảng: cách không gọi thẳng Mông Diệp, chỉ cần hắn khai ra nơi cất Xuyên uất tác, liền mở toang tứ môn, cho hắn một con đường sống.

Song ba ngày trôi qua, chẳng có hồi đáp.

Mông Kiều than rằng: "Nếu hắn còn trong thành, trừ khi đã nghĩ ra kế chu toàn, bằng không ắt chẳng tin. Cũng có thể Xuyên uất tác đã bị hắn hủy, không vật để đổi thì dứt khoát chẳng ứng."

"Xuyên uất tác mà bị hủy, dẫu đào đất ba thước, ta cũng nghiền xương hắn, tro tàn tung gió."

Lận Tắc lại đổi hịch văn: phàm ai thấy người giống trong hình mà chẳng báo, che giấu, giúp đỡ, đều tru diệt cả tộc; ai dâng manh mối, tố giác, thưởng trăm vàng, ngàn thạch lúa, cả nhà miễn lao dịch.

Ba ngày lại qua, vẫn bặt vô âm tín.

Lận Tắc điều binh đến, chia năm mươi người một đội, lục soát từng nhà. Thấy đống cỏ thì đốt, gặp kho lúa thì giáo kích chọc, đao rìu bổ xuống.

Thiệt hại của bách tính, đều do phủ Tư Không bồi hoàn gấp đôi.

Cuộc lục soát sắt máu, dữ dội, liên tục hai ngày hai đêm.

Mùng bốn tháng bảy, trong đêm mưa to, có quan lại báo: nơi tường thấp phía Tây môn có kẻ khả nghi, muốn trèo tường mà đi.

Khi ấy, Lận Tắc đang cúi nghiên cứu đồ phòng thủ thành Ký Châu. Nghe tin liền khoác áo mà dậy, chẳng chờ kịp các thị vệ, chỉ dẫn vài thân vệ cưỡi ngựa gấp rút lao đi.

Y quan sớm đã nói: dược lực của Xuyên uất tác chỉ còn một năm rưỡi.

Mà nay, đã hơn một năm rưỡi trôi qua, Lận Tắc chẳng dám chờ thêm một ngày.

Mà một phen đuổi ấy, liền đuổi thẳng ra mười dặm, tới Đông giao, Thập Lý Pha.

Tiết Đình theo đường vòng mà đi, cắt ngang đường nhỏ, chặn trước lối thoát của Mông Diệp.

Mông Diệp trên vai vác một bọc vải, bọc ấy hiện rõ góc cạnh vuông vức, tựa như hình dáng mộc hạp. Chẳng khó khiến người liên tưởng, trong hạp kia hẳn cất giữ hoa phấn Xuyên uất tác, tiện bề cho hắn mang theo.

"Đặt bọc vải xuống, ta sẽ tha ngươi rời đi." Giữa trời mưa núi mịt mù, Lận Tắc giục ngựa tiến lên.

Mấy tháng trốn đông lủi tây, cơm chẳng đủ ăn, mặt mày che lấp tro bụi, Mông Diệp chẳng khác nào chó nhà có tang. Dù Lận Tắc chỉ thân một mình, cũng dư sức hàng phục hắn, huống hồ còn đem theo thân vệ.

Song trong khoảnh khắc bị vây khốn, Mông Diệp đã bỏ bọc xuống đất, ôm chặt mộc hạp vào ngực: "Tư Không đại nhân, ngươi... cùng thủ hạ đều phải bỏ binh khí, lập tức xuống ngựa, để Tiết Đình tránh qua!"

"Nếu không, ta sẽ lập tức rải hoa phấn xuống đất, đồng quy vô tận."

Chốn này vốn không bày trận, chẳng hề có cung thủ, ai cũng chẳng dám đoan chắc một kích giết được hắn. Chỉ cần còn thoi thóp một hơi, hắn liền có thể hủy đi hoa phấn.

Lận Tắc lần đầu bị người khác chế ngự, đành theo lời mà sai khiến thuộc hạ.

Mông Diệp ngoảnh nhìn Tiết Đình cũng xuống ngựa, đứng về một bên với Lận Tắc, thấy đường sống đã mở, bèn tỏ chút giữ chữ tín, khóa chặt mộc hạp rồi ném về phía Lận Tắc, lập tức đoạt ngựa bỏ chạy.

Tiết Đình thân thủ linh hoạt bậc nhất, mũi chân điểm đất, người tung lên giữa mưa gió, liền đón lấy mộc hạp vào tay, ổn thỏa chẳng suy suyển.

"Tư Không, đã tiếp được rồi."

Thập Lý Pha, phong vũ gào thét, điện lôi chấn động.

Lận Tắc nở nụ cười hiếm hoi, đang định tiến lên ôm hộp mà gìn giữ, song chưa kịp cất bước, bỗng nghe tiếng dây cung bật mạnh, chẳng kịp né tránh, lưng liền trúng kích, ngã nhào xuống đất.

Một tiễn ấy, vốn theo dõi đã lâu, nay thẳng thấu tâm can.

Ấy là một trận thích sát đã mưu từ trước.

Trong đêm mưa, Hà Dục áo đen che mặt, theo cung tiễn ấy mà phát động, tử sĩ đồng loạt rút đao, tựa bầy ong tràn xuống.

Hắn phụng thánh mệnh đến đây, vốn chẳng chỉ hai việc, mà còn có việc thứ ba:

— Chính là thích sát.

[Lận Tắc cùng Vệ Thái giao chiến, kẻ nào thắng, ngươi liền nhân cơ hội trừ bỏ kẻ ấy. Trẫm muốn sau trận này, bắc ngạn Cửu Châu tuyệt vô chư hầu.]

Một kế sách tinh diệu đến cùng cực.

Hắn đường đường chính danh dẫn tử sĩ nhập Ký Châu, từng qua Loan Tử Khẩu cứu công chúa, dẫu chưa được tín nhiệm, nhưng cũng chẳng bị nghi kỵ.

Hơn nữa, đêm hai mươi hai Lận Tắc khởi binh công thành, kế đó dọn dẹp phòng thủ, lại bôn tẩu truy tầm Mông Diệp, tuyệt chẳng còn thời khắc nghĩ tới hắn. Công chúa khi ấy vẫn còn hôn mê, dẫu có nhớ cũng chỉ cho rằng hắn sớm đã hồi kinh.

Bởi vậy hắn dư thì giờ tìm lấy cơ hội ra tay.

Song hắn chẳng chịu chỉ ngồi chờ, bởi dẫu giờ thì nhiều cũng hữu hạn. Nếu đợi đến khi Lận Tắc ổn định Ký Châu, bố trí chu toàn thủ vệ trong ngoài, khi ấy muốn ám sát chẳng khác nào lên trời.

Thế nên Hà Dục phân tán số tử sĩ còn lại năm mươi người mai phục ngoài thành, bản thân thì giả trang thường dân lẫn vào đám chúng. Ngay khi Lận Tắc dán cáo thị, hắn cũng lưu lại ám ký dẫn dụ, khiến Mông Diệp lộ diện.

Có uy danh Thiên tử, cuối cùng hôm nay mới lừa được người ra, mượn hắn làm ngói dẫn ngọc.

Hà Dục đứng trên cao nhìn xuống trận chiến.

Bảy tám thị vệ đối chọi cùng năm mươi tử sĩ, lại còn phải bảo hộ một chủ tử trọng thương, đường sống mỏng manh đến tột cùng.

Hắn lại giương cung, toan nhắm thẳng vào kẻ đã hôn mê. Nhưng chợt nghe tiếng vó ngựa dồn dập chẳng xa, binh sĩ tiếp ứng từ trại của Lận Tắc đã kịp thời kéo đến.

Nhanh hơn hẳn ngoài dự liệu.

Gió mưa gấp gáp, tầm mắt hắn hữu hạn, giương cung lần nữa vẫn chưa tìm được chuẩn đích. Thấy binh giáp càng lúc càng gần, hắn chỉ kịp thổi một tiếng sáo, ra hiệu cho tử sĩ triệt thoái.

Lận Tắc đã trúng tiễn, mũi tiễn lại tẩm độc, ắt chẳng sống được bao lâu.

Trước loạn ly mà thoát khỏi thành, Hà Dục chỉ nghĩ như vậy.